TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA CÔNG NGHỆ HÓA HỌC
Bộ môn Công nghệ Hóa học – Vật liệu
03/05/2017

Bộ môn Công nghệ Hóa học – Vật liệu

     Tiền thân của Bộ môn Công nghệ Hóa học – Vật liệu (CNHH – VL) là các Bộ môn Công nghệ Vô cơ, Công nghệ Hữu cơ và Công nghệ Vật liệu. Hiện nay Bộ môn CNHH – VL quản lý 3 chuyên ngành gồm: Công nghệ Vô cơ, Công nghệ Hữu cơ và Công nghệ Vật liệu.

Chuyên ngành Công nghệ Vô cơ

     Ngành Công nghệ vô cơ là một trong những ngành phát triển rất lâu đời, nó đảm nhận vai trò như là một ngành công nghiệp “nền” trong công nghiệp hóa học (nói riêng), cũng như trong các lĩnh vực công nghiệp khác (nói chung). Ngành công nghệ vô cơ bao gồm các lĩnh vực như sau: Công nghệ sản xuất các chất vô cơ cơ bản (nền), Công nghệ sản xuất phân bón, công nghệ gốm sứ, công nghệ điện hóa, công nghệ xi măng và các ngành công nghệ silicat khác (công nghệ thủy tinh, công nghệ vật liệu chịu lửa, công nghệ gốm đơn oxyt, hợp kim gốm cermet…).

1. Công nghệ sản xuất các chất vô cơ cơ bản

      Công nghệ sản xuất các hợp chất vô cơ cơ bản là ngành công nghiệp hóa chất cơ bản cho các ngành công nghiệp khác, được sản xuất với khối lượng rất lớn và được sử dụng hầu hết ở các lĩnh vực, bao gồm một số hợp chất như sau: axit sulphuric, amoniac, axit nitric, axit phốtphoric, các hợp chất màu vô cơ…

                                       

2. Công nghệ sản xuất gốm sứ

      Gốm sứ là một trong những ngành sản xuất rất lâu đời (4000 năm TCN). Bắt đầu từ loại gốm truyền thống dân dụng, đến nay gốm sứ rất đa dạng ở nhiều lĩnh vực sử dụng: gốm dân dụng, gốm mỹ nghệ, gốm xây dựng, gốm y sinh (xương, răng sứ,…), gốm hóa học, gốm chịu lửa, gốm làm vật liệu mài, gốm phủ kim loại, gốm từ tính, gốm bán dẫn, sứ áp điện, sứ tụ điện, sứ cách điện, hợp kim gốm (cermet). Xu hướng hiện nay người ta tập trung nghiên cứu, phát triển các loại gốm kỹ thuật cao như: hợp kim gốm, sứ bán dẫn, gốm từ tính.

Một số hình ảnh về lĩnh vực gốm sứ

                            

3. Công ngh sn xut phân bón

     Việt Nam có dân số đông, nhu cầu lương thực và thực phẩm rất cao, do đó tỷ lệ nông nghiệp chiếm khá lớn trong nền kinh tế quốc dân. Khối lượng phân bón đáp ứng cho nông nghiệp được sử dụng rất lớn (trên 5 triệu tấn phân bón các loại), hàng năm nhập khẩu lượng phân bón hàng triệu tấn. Các loại phân bón hiện nay được sử dụng trong nông nghiệp: phân bón hóa học, phân bón hữu cơ, phân bón hữu cơ-vi sinh, phân bón sinh học… Xu hướng tương lai, nguồn phân bón được chuyển sang các loại phân bón sạch hơn, xanh hơn cho môi trường và sức khỏe con người, đó là các loại phân bón hữu cơ, vi sinh và các nguồn chất thải tái sử dụng làm phân bón.

                       

4. Công ngh sn xut xi măng (cement)

       Xi măng là một trong những ngành công nghiệp được hình thành và phát triển sớm nhất ở Việt Nam. Cái nôi đầu tiên của ngành xi măng Việt Nam là nhà máy xi măng Hải Phòng, được khởi công xây dựng ngày 25/12/1899 với nhãn mác con Rồng Xanh, Rồng Đỏ.

        Hiện nay trên cả nước có hàng trăm công ty, nhà máy trong và ngoài nước sản xuất xi măng. Một số công ty, nhà máy sản xuất lớn như Công ty xi măng Hà Tiên, Holcim, Nghi Sơn, Hoàng Thạch, Công Thanh, Siam… Trên cơ sở đó, nhu cầu về nhân sự cho ngành xi măng rất lớn trong khi đó các cơ sở đào tạo lĩnh vực xi măng ở Việt Nam còn hạn chế.

        Bộ môn Công nghệ Hóa học – Vật liệu thuộc Khoa Công nghệ hóa học Trường đại học Công nghệp Thành phố Hồ Chí Minh tự hào là cơ sở đào tạo chuyên ngành công nghệ xi măng ở khu vực phía nam. Hiện nay có hàng trăm cựu sinh viên của Bộ môn là cán bộ, kỹ sư làm việc tại các công ty, nhà máy sản xuất xi măng trong cả nước, điều này cho thấy sự hiệu quả trong công tác đào tạo của Bộ môn.

       

5. Công nghệ điện hoá

        Công nghệ điện hóa là một mảng ngành của công nghệ vô cơ, bao gồm các lĩnh vực:

  • Công nghệ bề mặt (mạ điện, lớp phủ vô cơ, mạ nhúng nóng, các công nghệ xử lý bề mặt kim loại bằng phương pháp hóa học và điện hóa).
  • Công nghệ sản xuất pin-ắc quy.
  • Công nghệ điện phân được ứng dụng để sản xuất các hóa chất vô cơ: sản xuất xút – clo, dioxit mangan điện giải (EMD), điện phân kim loại từ muối nóng chảy, điện phân tinh chế kim loại…, các hóa chất hữu cơ và xử lý các kim loại nặng và kim loại chuyển tiếp trong nước thải.
  • Các công nghệ chống ăn mòn kim loại (công nghệ bảo vệ catốt, bảo vệ anốt, sử dụng chất ức chế ăn mòn).

        Ngoài ra điện hóa còn hỗ trợ rất tích cực các ngành khác nhau như: chẩn đoán y khoa, sinh học, hóa học, môi trường, vật liệu và cơ khí… Mặc dù dựa trên cơ sở các nguyên lý cơ bản như nhau nhưng công nghệ liên quan tới các ứng dụng này có thể hoàn toàn khác nhau. Hướng đi mới cho ngành điện hóa là tạo ra các lớp phủ với kích thước nano, tạo ra các loại vật liệu điện cực mới, cũng như các tiến bộ trong thiết kế điện cực và màng thẩm thấu ion có tính lựa chọn cao.

          

Chuyên ngành Công nghệ Hữu cơ

        Chuyên ngành Công nghệ Hữu cơ, thuộc Bộ môn Công nghệ Hóa học – Vật liệu, Khoa Công nghệ Hóa học, Trường Đại học Công nghiệp Tp.HCM, tiền thân là Bộ môn Công nghệ Hữu cơ, được thành lập từ những ngày đầu của Khoa Công nghệ Hóa học. Trải qua nhiều thời kỳ phân chia và sát nhập, đến nay chuyên ngành Công nghệ Hữu cơ là một trong những nhóm ngành lớn của khoa Công nghệ Hóa học có nhiệm vụ đào tạo cử nhân cao đẳng, kỹ sư và thạc sỹ kỹ thuật Hóa học. Các công trình nghiên cứu của nhóm chuyên ngành hướng đến là nghiên cứu ứng dụng, góp phần phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo tầm nhìn và sứ mạng của Khoa Công nghệ Hóa học nói riêng và của Trường Đại học Công nghiệp Tp.HCM nói chung.

        Các môn học thuộc nhóm chuyên ngành Công nghệ Hữu cơ gồm: Hóa học màu sắc, Hóa học & Hóa lý Polymer, Tổng hợp Hữu cơ, Công nghệ chất hoạt động bề mặt, Kỹ thuật nhuộm, Hương liệu Mỹ phẩm, Các sản phẩm chăm sóc cá nhân, Kỹ thuật sản xuất bột giấy và giấy, Gia công polymer, Công nghệ sản xuất sơn, Hợp chất thiên nhiên, Công nghệ các hợp chất tự nhiên,…

        Cơ hội nghề nghiệp dành cho sinh viên chuyên ngành Công nghệ Hữu cơ rất cao, 100% sinh viên ra trường có việc làm và làm việc tại hầu hết các doanh nghiệp thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong số đó có rất nhiều doanh nghiệp đã và đang có mối quan hệ sâu rộng với bộ môn Công nghệ Hóa – Vật liệu, hoặc các doanh nghiệp đang sử dụng sinh viên đã tốt nghiệp của bộ môn như: Công ty Hyosung Việt Nam, Công ty Cổ phần Merufa, Công ty Bureau Veritas Việt Nam, Công ty TNHH Huhtamaki Việt Nam, Công ty Chỉ may T&M, Công ty TNHH Sơn Hải VânCác công ty thuộc Tập đoàn dệt may Vinatex (Dệt May 7, Tập đoàn Thái Tuấn, Công ty CP Dệt Phong Phú), Công ty Sơn Dura, Công ty Nhựa Rạng Đông, Công ty Mỹ phẩm Sài Gòn, Công ty Sơn Á Đông, Công ty Sơn Nghiệp Phát, các công ty xử lý môi trường (Cleantech…), các công ty cung cấp hóa chất chuyên ngành (Tân Châu, Dyechem Alliance (VN), hóa chất Á Châu,…

      Các lĩnh vực nghiên cứu là điểm mạnh của chuyên ngành Công nghệ Hữu cơ:

1. Công nghệ tổng hợp hữu cơ

  • Nghiên cứu tổng hợp hữu cơ trong các điều kiện hóa học xanh;
  • Nghiên cứu tổng hợp, xác định cấu trúc và ứng dụng của các vật liệu xúc tác;
  • Nghiên cứu tổng hợp các chất hoạt động bề mặt, thuốc nhuộm, các hợp chất ứng dụng xử lý nước, chất trợ nhuộm,…

2. Công nghệ hợp chất thiên nhiên

  • Nghiên cứu tách chiết, phân riêng và ứng dụng các sản phẩm từ tự nhiên ứng dụng trong các lĩnh vực sản phẩm chăm sóc cá nhân, các sản phẩm mỹ phẩm, chất hoạt động bề mặt, các sản phẩm phục vụ cho ngành môi trường,…
  • Nghiên cứu tách chiết các hợp chất màu tự nhiên và ứng dụng trong công nghệ nhuộm vật liệu dệt;
  • Nghiên cứu tách chiết các hợp chất có hoạt tính sinh học ứng dụng trong lĩnh vực hóa dược,…

3. Công nghệ sản xuất bột giấy và giấy

        Ngành giấy là một trong 10 ngành Công nghiệp trọng yếu, thuộc lĩnh vực Công nghiệp chế biến, do Vụ Công nghiệp nhẹ – Bộ Công thương quản lý, với trên 500 doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm bột giấy và giấy, phân bố trên khắc cả nước. Hầu hết các doanh nghiệp ngành giấy là những doanh nghiệp cổ phần, vốn đầu tư nước ngoài (FDI), quy mô công suất ngày càng mở rộng, đáp ứng nhu cầu sử dụng giấy trong nước và xuất khẩu. Chính vì thế để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực của ngành này, các hướng nghiên cứu tập trung nghiên cứu:

  • Các hợp chất tự nhiên từ nguồn nguyên liệu gỗ rừng trồng (chlorophyll, các chất bảo quản tự nhiên, dung môi xanh);
  • Quy trình công nghệ hiện đại và thiết bị sản xuất bột giấy và các sản phẩm giấy (giấy in, giấy viết, giấy bao bì, giấy vệ sinh, giấy đặc biệt); kiểm nghiệm và đánh giá sản phẩm bột giấy và giấy;
  • Ứng dụng công nghệ sinh học trong công nghiệp giấy (ứng dụng enzyme và VSV cho sản xuất bột giấy và giấy, xử lý nước thải);
  • Xử lý môi trường công nghiệp giấy

4. Công nghệ nhuộm

        Những năm gần đây dệt may luôn dẫn đầu kim ngạch xuất khẩu Việt Nam và là một trong những ngành kinh tế xuất khẩu mũi nhọn của quốc gia. Tập đoàn Dệt May Việt Nam đang đầu tư mạnh mẽ để hình thành chuỗi cung ứng hoàn chỉnh dệt-nhuộm-hoàn tất nhằm cạnh tranh với các doanh nghiệp liên doanh và vốn đầu tư nước ngoài đang ồ ạt vào Việt Nam. Trước tình hình đó nhu cầu nhân lực cho ngành dệt nhuộm ngày càng cao, hiện nay nhân lực của ngành này luôn ở tình trạng thiếu thốn và phải bổ sung liên tục. Chính vì thế, hướng nghiên cứu chuyên nhành công nghệ nhuộm tập trung vào:

  • Các nghiên cứu mới về kỹ thuật nhuộm, in hoa trên các sản phẩm mỹ phẩm theo các phương pháp mới (có hỗ trợ siêu âm, vi sóng) trong công nghệ sản xuất sạch và bền vững;
  • Các nghiên cứu về đặc tính phân hủy, khả năng hấp phụ,… của các loại thuốc nhuộm khác nhau định hướng cho việc xử lý nước thải trong ngành dệt nhuộm;
  • Các nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật nhuộm vật liệu dệt bằng chất màu tự nhiên nhằm tăng các chỉ tiêu về độ bền màu của chất màu tự nhiên…

5. Các Công nghệ khác

  • Nghiên cứu xây dựng đơn công nghệ các sản phẩm chăm sóc cá nhân và gia đình, các chất hoạt động bề mặt, sản phẩm mỹ phẩm theo phương pháp truyền thống và phương pháp mới hướng đến công nghệ xanh;
  • Nghiên cứu xây dựng đơn công nghệ và cải tiến quy trình công nghệ sản xuất (PU, NC, sơn nước…) theo nhu cầu chung của xã hội và định hướng của Hiệp hội Sơn Việt Nam;
  • Các nghiên cứu gia công polymer, kết hợp với khoa Công nghệ may và Thời trang tận dụng các loại vật liệu phế thải của ngành dệt may và da giày để tạo các loại vật liệu composite hữu dụng trong cuộc sống hàng ngày…

       Kiến thức sinh viên thuộc Bộ môn CNHH – VL được trang bị và kỹ năng cũng như tác phong công nghiệp mà sinh viên rèn luyện được trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học đáp ứng được nhu cầu của xã hội về nguồn nhân lực sáng tạo, giỏi thực hành và giỏi công nghệ cho ngành công nghiệp nặng về lĩnh vực công nghệ hóa học của Việt Nam.


 

 

 

 

 

 

 

Đơn vị liên kết